Kinh nghiệm du lịch Thái Nguyên

Thích thì click đi

Cùng Phượt – Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực Việt Bắc nói riêng và vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung. Không chỉ vậy thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Thái Nguyên vô số những thắng cảnh đẹp, hùng vĩ với nhiều địa danh du lịch nổi tiếng, hấp dẫn như: Suối Mỏ Gà, hang Phượng Hoàng, hồ Núi Cốc, khu di tích lịch sử ATK Định Hóa… Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc nghệ thuật chùa như: Khu Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn… Tất cả những điều này khiến lựa chọn du lịch Thái Nguyên khá là phù hợp nếu các bạn muốn tìm một địa điểm du lịch gần Hà Nội.

Sắc màu ma mị trên Hồ Núi Cốc (Ảnh – Bé Hạt Tiêu Photography)

©Bản quyền hình ảnh : Trong bài viết có sử dụng một số hình ảnh được tìm kiếm thông qua công cụ Google Image của các tác giả Bé Hạt Tiêu Photography, hoamulanvn, TranTuan Phuc84, jettonogbanua, FB Du lịch ATK Định Hóa Thái Nguyên, Phạm Trung Hiếu, Nguyễn Hòang Phi, Quốc Tiến, Hoàng Phương, Thủy Fashiontt, FB Duli, Cú Đêm, Tùng Nguyễn, FB Suối Cửa Tử, Nguyễn Công Hưng, Duy Phạm, Fantastic Kelbin, Trung Dinh, thainguyentourism.vn, Tuấn Anh Lê, Hà Tiến Vinh, truongdplx, Tuệ Thanh, Thanh Long, Dung Hoang, wikipedia, Thảo Chip, Fb Cơm Lam Gà Nướng, Tô Hưng Giang, Hoa quả Huấn Điệp, Truong Minh Anh, Lan Anh Ha, Hồng Còi, Hoàng Ngọc Anh, Nguyễn Vân, Lan Anh, Phượng Poire, Fb Nếp Thầu Dầu và của một số tác giả chưa rõ tên nhằm minh họa rõ hơn cho nội dung bài viết. Bản quyền những hình ảnh này thuộc về tác giả. Chính sách của Cùng Phượt về bản quyền hình ảnh các bạn có thể theo dõi tại đây.

Lịch sử hình thành Thái Nguyên

Mục lục

Thái Nguyên xưa thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Vào thế kỷ thứ III, Thái Nguyên thuộc huyện Vũ Định, sau đổi tên thành huyện Long Bình. Có những ý kiến cho rằng quê gốc của Lý Nam Đế là ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, ông tu tại chùa Hương Ấp đến năm 13 tuổi thì theo Phổ Tổ thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá thuộc Hoài Đức, Hà Nội. Đến thế kỷ thứ VII được gọi là huyện Vũ Bình, rồi thành châu Thái Nguyên dưới đời nhà Lý. Cuối thế kỷ 14, châu được đổi thành trấn, năm 1407 đổi lại thành châu, sang 1408 thì trở thành phủ, năm 1677 trở thành trấn. Mãi đến năm 1902, triều đình mới cử quan chức trấn nhiệm Thái Nguyên, đặt doanh sở ở Ngọc Hà.

Sáng sớm trên những đồi chè Thái Nguyên (Ảnh – hoamulanvn)

Kể từ khi nhà Lý định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên đã trở thành phên giậu trực tiếp che chở phía bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống năm 1076-1077, phần đất phía nam Thái Nguyên từng là địa đầu của phòng tuyến sông Cầu, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quan quân nhà Lý với Nhà Tống. Đầu thế kỷ 15, nhà Minh đem quân sang Việt Nam, dân chúng Thái Nguyên lại liên tiếp đứng lên khởi nghĩa. Tiêu biểu là Lưu Nhân Chú, người huyện Đại Từ, ông cùng cha và anh rể đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Vào thời nhà Nguyễn, Thái Nguyên là nơi nổ ra nhiều phong trào khởi nghĩa nông dân chống lại quan lại phong kiến. Người dân Thái Nguyên từng tham gia các cuộc khởi nghĩa của Dương Đình Cúc, Nông Văn Vân.

Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, đất Thái Nguyên là địa bàn hoạt động thường xuyên, là hậu cứ của Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn (ông làm chức đội lính khố xanh nên còn gọi là đội Cấn) và Lương Ngọc Quyến đã nổ ra và đêm ngày 30 tháng 8 năm 1917, nghĩa quân đã chiếm được tỉnh lị. Tuy nhiên sau đó thực dân Pháp đem viện binh từ Hà Nội lên tấn công khiến nghĩa quân phải bỏ Thái Nguyên và rút về Vĩnh Yên rồi bị dập tắt sau đó. Tỉnh Thái Nguyên được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (ngày mùng 1 tháng 10 âm lịch, tức ngày 4 tháng 11 năm 1831), tỉnh Thái Nguyên khi đó giáp với các tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây.

Từ năm 1956 đến 1975, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc Khu tự trị Việt Bắc và thành phố Thái Nguyên là thủ phủ của khu tự trị này. Sáp nhập huyện Phổ Yên về tỉnh Vĩnh Phúc, và huyện này được cắt trả cho Thái Nguyên. Trước đó, năm 1890, chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thời nhà Nguyễn thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1965, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáp nhập hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Tỉnh Bắc Thái cuối cùng lại tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn như ngày nay vào năm 1997.

Du lịch Thái Nguyên vào thời gian nào?

Thành phố Thái Nguyên (Ảnh – TranTuan Phuc84)

Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5.

Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng do địa hình nên khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:

  • Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.
  • Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía nam huyện Võ Nhai.
  • Vùng ấm gồm: Thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên và các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Đại Từ.

Đặc sản của Thái Nguyên là những đồi chè xanh mướt, chính vì vậy các bạn không thể bỏ lỡ đi du lịch Thái Nguyên vào mùa hè, dịp này thường là thời điểm thu hoạch và hái chè nên sẽ rất tuyệt vời để bạn tìm hiểu về một trong những loại chè ngon của Việt Nam cũng như có những khoảnh khắc “ảo diệu” bên đồi chè.

Nếu thích du lịch lễ hội, các bạn đừng bỏ lờ thời điểm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm là lúc mà rất nhiều các lễ hội nổi tiếng diễn ra như: lễ hội đền Đuổm, Lồng Tồng, Hội Hích, hội Chùa Hang, hội Núi Văn – Núi Võ…

Phương tiện đi và đến Thái Nguyên

Thái Nguyên không quá xa Hà Nội nên các bạn có thể khám phá du lịch Thái Nguyên bằng phương tiện xe máy (Ảnh – jettonogbanua)

Cách Hà Nội chỉ chưa tới 100km, Thái Nguyên với hạ tầng giao thông đầy đủ đường bộ, đường sắt và đường sông. Thái Nguyên có hệ thống đường bộ nối liền với các tỉnh khác của vùng Đông Bắc, quốc lộ 3 là tuyến đường huyết mạch nối Thái Nguyên với Thủ đô Hà Nội, với các tỉnh Cao Bằng Bắc Kạn chạy dọc suốt 85km chiều dài của tỉnh. Từ Thái Nguyên có thể đi theo quốc lộ 24 đi Tuyên Quang, Hà Giang hoặc các tỉnh khác của vùng Tây Bắc. Tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên nối dài đến mỏ than Núi Hồng rồi ra Quảng Ninh để phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách.

Từ Hà Nội, các bạn có thể đi tới Thái Nguyên theo hướng Quốc lộ 3 (đường Nam Thăng Long qua sân bay Nội Bài). Các tuyến xe khách đi Thái Nguyên xuất phát từ bến xe Mỹ Đình hoặc bến xe Nam Thăng Long. Nếu không muốn đi xe máy từ Hà Nội, các bạn có thể đi xe khách hoặc tàu hỏa lên Thái Nguyên, tiếp đó các bạn thuê xe máy ở thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên, nếu mang theo xe máy từ nhà, các bạn có thể kết hợp lại để làm một vòng cung các tỉnh Đông Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn

Khách sạn nhà nghỉ tại Thái Nguyên

Thái Nguyên là một điểm đến của du lịch văn hóa về nguồn với những di tích lịch sử gắn liền với những cuộc kháng chiến trường kỳ trong công cuộc giải phóng dân tộc. Không chỉ vậy, địa phương còn giàu tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng nên hệ thống cơ sở lưu trú tại tỉnh dần được đầu tư để phục vụ lượng du khách đến du lịch Thái Nguyên ngày càng tăng.

Xem thêm: Danh sách các khách sạn nhà nghỉ tại Thái Nguyên (Cập nhật 2017)

Các địa điểm du lịch ở Thái Nguyên

Hồ Núi Cốc

Hồ ở phía nam huyện Đại Từ, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 15km về phía tây, là một thắng cảnh thiên nhiên gắn liền với câu chuyện tình huyền thoại về chàng Cốc nàng Công.

Hồ Núi Cốc (Ảnh – Bé Hạt Tiêu Photography)

Trong cái mênh mang của mây trời, sông nước; trong cái ngút ngàn mướt xanh của những vạt rừng in bóng mặt hồ; rồi 89 hòn đảo mang những cái tên thật khêu gợi: Đảo Tiên Nằm, đảo Núi Cái, đảo Cò, đảo Dê, đảo Khỉ… và xa xa phía tây, dãy Tam Đảo sừng sững như một bức trường thành lam sẫm… thật khó dùng lời để tả hết vẻ đẹp, sự quyến rũ của hồ Núi Cốc – hồ huyền thoại. Đến với hồ Núi Cốc là đến với một thắng cảnh “sơn thủy hữu tình”; đến với không khí trong lành, mát mẻ; để du ngoạn trên hồ và đắm mình trong câu chuyện tình chung thủy ngàn đời trở thành huyền thoại của vùng sơn cước.

Xem thêm bài viết: Hướng dẫn đi Hồ Núi Cốc (2017)

Hồ Núi Cốc nguyên là một đoạn của sông Công, một trong các chi lưu của sông Cầu chảy vòng quanh một ngọn núi đất có tên là núi Cốc. Đập Núi Cốc được khởi công xây dựng đầu năm 1972 nhưng do Không quân Mỹ mở chiến dịch Linebacker I đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam nên công trình bị đình hoãn đến đầu năm 1973 mới tái khởi động. Tháng 10 năm 1978, một trận lũ lịch sử trên sông Công có lưu lượng 3.000 mét khối/giây, gấp gần 4 lần lưu lượng xả thiết kế của cửa xả chính và làm vỡ hai vai đập. Công trình Đập Núi Cốc hoàn thành phần đầu mối vào năm 1979 và hoàn thành toàn bộ vào năm 1982.

Khu di tích ATK Định Hóa

Ảnh – FB Du lịch ATK Định Hóa Thái Nguyên

An toàn khu Trung ương Định Hoá nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, nơi có địa thế hiểm trở “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, có đầy đủ yếu tố địa lợi, nhân hoà, đã trở thành địa bàn hoạt động an toàn của các cơ quan đầu não kháng chiến. Khu căn cứ này đặt tại huyện Định Hóa nằm ở cực bắc tỉnh Thái Nguyên.

Đồi Khau Tý

Đồi Khau Tý nơi đặt trụ sở đầu tiên của Bác Hồ tại ATK Định Hóa, thuộc xóm Nà Tra, xã Điềm Mặc. Bác đã ở và làm việc tại đây đến giữa tháng 10/1947.

Đồi Phong Tướng

Đồi Nà Lọm bây giờ còn được gọi là đồi Phong Tướng, cách Tỉn Keo khoảng 500m về phía Đông, bên phải đường ô tô từ trung tâm xã Phú Đình vào đèo De. Cũng tại đây, ngày 28/5/1948 Bác đã chủ trì lễ phong quần hàm Đại tướng cho Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam Võ Nguyên Giáp.

Di tích Tỉn Keo

Tỉn Keo nghĩa tiếng Tày là chân đèo, Đồi Tỉn Keo nằm ở ngay chân đèo De, thuộc xóm Tỉn Keo xã Phú Đình, trung tâm của An Toàn Khu. Ngày 6/12/1954 quyết định thông qua phương án tác chiến mùa Xuân năm 1954 đã được thực hiện tại đây cùng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Tỉn Keo hiện là một trong những di tích quan trọng trong hệ thống các di tích lịch sử kháng chiến của ATK Định Hóa.

Thác Khuôn Tát (Thác Bảy Tầng)

Thác Khuôn Tát (Ảnh – Phạm Trung Hiếu)

Thác Khuôn Tát người dân địa phương còn gọi là thác Bảy Tầng, thuộc xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình. Thác ở không xa các di tích Tỉn Keo, đồi Phong Tướng, lán Khuôn Tát, nhà trưng bày ATK Định Hóa, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ATK Định Hóa.

Nơi đầu nguồn suối Tỉn Keo, giữa đỉnh núi nhiều cây cổ thụ, một dòng nước ào ào đổ xuống các bậc đá tạo nên dòng thác bạc bảy tầng. Tầng thác dưới cùng khoảng 12m, đổ vào một vũng lớn, mỗi chiều gần 10m, sâu tới 2m, nước trong vắt tạo ra một nơi bơi lội lí tưởng. Ngay giữa chiều hè, chỉ cần vào cách chân thác chừng 50m, ta đã có cảm giác mát lạnh. Thác Khuôn Tát, khu vực đầu nguồn suối Tỉn Keo thật là nơi lý tưởng để du ngoạn, bơi lội, cắm trại, dã ngoại.

Đồi chè Tân Cương

Đồi chè Tân Cương (Ảnh – Nguyễn Hòang Phi)

Với 20 ngàn ha chè chuyên canh trên toàn tỉnh thì có tới 17 ngàn ha là chè đặc sản. Những đồi chè ngút ngàn xanh mướt của Thái Nguyên hôm nay không đơn thuần chỉ là sản phẩm thuần nông của vùng đồi núi Trung du Bắc bộ, mà đang dần từng bước trở thành sản phẩm du lịch, được du khách trong và ngoài nước yêu thích. Bạn không chỉ được ngắm nhìn thỏa thích trong hương trà thơm quyến rũ mà còn được trải nghiệm khi hóa thân thành những người trồng chè thoăn thoắt hái những búp chè xanh non cho đến khi nặng cái gùi sau lưng, bạn sẽ được mang về nơi chế biến để thử làm một nghệ nhân chế biến trà: từ làm héo, vò, sao chè, rồi tự tay mình làm ra những búp chè quăn tít, ngào ngạt hương. Bạn sẽ cảm hết được cái gian khó lao động từ những búp chè bé tí và vị chát ngọt ngào của chúng, sâu lắng biết nhường nào. Thái Nguyên có tới chín vùng trà, mỗi vùng đều có những nét đặc trưng riêng, từ trồng, thu hoạch đến chế biến và đặc biệt là hương vị trong phẩm cấp trà của mỗi vùng đều khác nhau…

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 10km về phía Tây Nam, Tân Cương được thiên nhiên ban tặng khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Những gốc chè được trồng trên những ngọn đồi thoai thoải, hướng về phía mặt trời mọc để có thể hấp thụ những tinh hoa của khí trời. Nhìn từ xa, những đồi chè như những con thằn lằn khổng lồ, hiền lành đang phơi mình dưới cái nắng vàng của Bắc Bộ. Có lẽ vì thế mà những ngọn đồi ở đây được người dân đặt tên là đồi Thằn Lằn.

Hồ Suối Lạnh

Hồ Suối Lạnh khi hoàng hôn xuống (Ảnh – Quốc Tiến)

Nằm dưới chân núi Hàm Lợn của dãy núi Tam Đảo, hồ Suối Lạnh thuộc xã Thành Công, huyện Phổ Yên, tiếp giáp với Sóc Sơn, Hà Nội. Hồ với diện tích gần 50 ha, có suối nước trong, có đồi núi, rừng cây tạo cảnh quan non xanh, rất phù hợp để phát triển du lịch nghỉ dưỡng.

Hồ Vai Miễu

Hồ Vai Miễu (Ảnh – Hoàng Phương)

Nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo với diện tích 40 ha, hồ có nhiều đảo đẹp và cảnh quan thiên nhiên hoang sơ. Hồ cũng nằm gần khu di tích lịch sử Núi Văn – Núi Võ nên khá phù hợp với các hoạt động du lịch cắm trại nghỉ dưỡng.

Hồ Ghềnh Chè

Hồ Ghềnh Chè thuộc xã Bình Sơn, Tp Sông Công có diện tích 40 ha, được bao quanh bởi những cánh rừng bạch đàn, rừng mỡ bạt ngàn. Do cảnh quan đẹp, không khí trong lành, lại không xa trung tâm Sông Công và Thái Nguyên nên gần đây hồ Ghềnh Chè thu hút được nhiều khách du lịch đến câu cá.

Thác Nặm Rứt

Thác Nặm Rứt hay còn gọi là thác Mưa Rơi (Ảnh – Thủy Fashiontt)

Thác Nặm Rứt trong tiếng Tày có nghĩa là thác Mưa Rơi. Thác ở cách trung tâm Tp Thái Nguyên khoảng 35km và nằm trên đường từ La Hiên (km 18 QL 1B) vào khu dích khảo cổ học Thần Sa.

Vào mùa mưa, giữa vùng rừng núi non hùng vĩ, trên đỉnh một núi đá vôi có nhiều cây rừng, những dòng nước trắng xóa đổ xuống dòng sông Nghinh Tường tạo nên thác lớn. Vào mùa khô, nước chỉ đủ để ngấm qua những mảng rêu trên vách đá, rơi xuống dòng sông xanh tạo sự lấp lánh khắp mặt sông dưới ánh nắng vàng.

Hang Phượng Hoàng – Suối Mỏ Gà

Hang Phượng Hoàng (Ảnh – FB Duli)

Nằm bên trái QL 1B Thái Nguyên – Lạng Sơn (km 42) trên một núi đá lớn của dãy Phượng Hoàng thuộc xã Phú Thượng huyện Võ Nhai.

Đường lên hang Phượng Hoàng (Ảnh – Cú Đêm)

Nằm ở độ cao khoảng 500m so với chân núi, Phượng Hoàng là một hang động casto rộng lớn với vẻ đẹp kỳ lạ. Trong hang không khí trong lành, mát rượi. Đáy hang có nước trong veo, lại có những bờ cát trắng mịn ven bờ nước. Trong lòng hàng, rất nhiều những nhũ đá được thiên nhiên tạo thành những cột chống trời, mẹ bồng con, vũ nữ, voi chầu… rất đẹp. Chính giữa lòng hang là khối nhũ đá khổng lồ hình chim phượng hoàng trong tư thế giương cánh oai hùng. Khối nhũ này cũng chính là duyên cớ để hang có tên là Phượng Hoàng và được thêu dệt nên câu chuyện cổ tích về mối tình chung thủy hóa đá của đôi chim Phượng Hoàng thủa xưa.

Ngay chân núi Phượng Hoàng là dòng suối Mỏ Gà chảy giữa lòng hang và trong vắt, mát lạnh. Do hang khá rộng và sâu, cửa hang nước đổ thành thác nước tung bọt trắng xóa giữa những khối đá lớn rồi đổ xuống cánh đồng Phú Thượng tạo nên cảnh quan sơn thủy hữu tình.

Suối Cửa Tử

Các bạn có thể đến Cửa Tử để trekking (Ảnh – Tùng Nguyễn)

Suối Cửa Tử nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 45 km, thuộc xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ. Xã nằm ở phía tây của huyện và thuộc vùng núi Tam Đảo, tiếp giáp với đỉnh cao nhất của dãy núi này (1.590 m). Đây cũng là xã ngã ba ranh giới giữa ba tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang. Một dòng suối chảy từ dãy Tam Đảo xuống, dọc theo chiều dài của xã rồi đổ vào sông Công, đó là Cửa Tử.

Xã Hoàng Nông có địa hình tương đối phức tạp. Đồi núi có độ dốc lớn. Xen kẽ đồi núi là những dải đồng bằng nhỏ hẹp với cánh đồng rau màu, và thửa ruộng bậc thang đẹp mắt nằm ngay trung tâm của xã, cùng với đó là hệ thống ao, hồ, đập chắn giữ nước nằm rải rác ở các xó.

Hay cũng có thể đến Cửa Tử để bơi lội và chinh phục các thác nước (Ảnh – FB Suối Cửa Tử)

Cửa Tử thực chất là một con suối trải dài, hấp dẫn những bạn trẻ ưa khám phá bởi sự hoang sơ, thất thường của dòng suối. Người dân bản địa sống gần con suối này cho biết, sở dĩ gọi là Cửa Tử bởi vì ở đây chỉ có duy nhất một đường lên xuống. Nước suối lại cao thấp thất thường theo lượng mưa, nên ít người có thể khám phá hết con suối. Nằm lọt thỏm giữa những ngọn núi cao vút, dòng suối như một con rắn uốn mình trườn đi.

Hiện nay Cửa Tử thu hút được rất nhiều bạn trẻ đến quanh năm, vào mùa hè các hoạt động lội suối, chinh phục thác, bơi lội là những hoạt động phổ biến. Vào mùa đông, Cửa Tử cũng có một biển mây đang vẫy gọi các bạn thích leo núi.

Chùa Hang

Chùa Hang nằm ngay trung tâm thị trấn Chùa Hang, Đồng Hỷ, cách trung tâm Tp Thái Nguyên khoảng 2km.

Lễ hội Chùa Hang, Thái Nguyên diễn ra vào ngày 19-20 tháng Giêng hàng năm (Ảnh – Nguyễn Công Hưng)

Chùa Hang còn được gọi là “Tiên Lữ Phật Động”, tên chữ là “Kim Sơn Tự”. Di tích thắng cảnh Chùa Hang có ba ngọn núi đá lớn, độc lập trên vùng đất bằng phẳng… Ngọn núi đứng giữa có tên là “Huyền Vũ” cao to vững trãi, hai bên là hai ngọn “Thanh Long – Bạch Hổ” vươn cao uy nghi, ba ngọn kết nối nhau bởi dải yên ngựa chừng 1000m có diện tích chân núi chừng 2,7ha.

Núi Chùa Hang xưa gọi là núi đá Hóa Trung (núi Long Tuyền), động Chùa Hang còn gọi là động Tiên Lữ, có nhiều nhũ đá đẹp, trong động thờ Phật. Trên vách đá của động hiện có câu đối cổ bằng chữ Hán

Phong cảnh thiên nhiên duy đệ nhất
Danh lam nhân tạo thị vô song

Tạm dịch:

Phong cảnh thiên nhiên đẹp vào bậc nhất
Danh lam do con người tạo cũng không gì sánh được

Động Linh Sơn

Thắng cảnh Linh Sơn còn có tên Linh Sơn động. Động Linh Sơn thuộc xã Linh Nham, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Động nằm trong núi Hột, ngọn núi đá vôi đứng tách hẳn các bản làng, khu dân cư của huyện Đồng Hỷ.

Linh Sơn động có lòng hang rất rộng, có thể chứa được cả ngàn người, khí hậu mát mẻ, thiên nhiên trong lành. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, động đã là nơi đóng quân, để kho tàng của một số cơ quan đơn vị bộ đội của tỉnh, liên khu phục vụ kháng chiến.

Động gồm hai hang đá tự nhiên. Hang Thiên rộng hơn 360 m2, nền hang bằng phẳng và có các bậc lên như bậc tam cấp, tại đây có các bệ thờ Phật bằng đá. Động có nhiều cảnh quan tự nhiên kỳ thú do nhũ đá tạo thành, như những chùm san hô, hình voi chầu, hổ phục, kỳ lân, sư tử… Cùng nhiều cảnh đẹp mê hồn như động Thuỷ Tiên, buồng Tiên nữ và đặc biệt là đôi rồng vờn mây uốn lượn trong một thế giới huyền ảo của nhũ đá thiên nhiên. Cuối hang Thiên, về phía tây có đường đi lên đỉnh núi Hột và có đường thông xuống hang Địa. Hang Địa có diện tích hơn 480 m2, sâu và thấp hơn hang Thiên chừng 15 mét. Nền hang khá phẳng, rộng rãi, thấp dần, tạo thành những chiếu nghỉ rộng lớn. Nơi đây không gian tĩnh tại, thiên nhiên huyền ảo với những hình tượng đẹp được cấu tạo do nhũ đá như hình bút tháp, mẹ bồng con… Xưa kia, nhân dân địa phương đã từng dùng động làm chỗ thờ Phật. Trong động còn tượng phật Thích Ca bằng đồng, một số tượng phủ sơn son thiếp vàng, tượng đá tự nhiên trên các bệ bằng đá.

Hang Chùa

Nằm trong dãy núi đá vôi thuộc xã Văn Lăng, Đồng Hỷ, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 35km. Hang lớn và rất sâu, hiện tại mới khảo sát được đến độ sâu 700m, bên trong có vô vàn nhũ đá tạo nên vô số hình thù kỳ lạ và rất đẹp, có những nhũ đá cao lên tới 20m. Hang hiện tại vẫn còn nguyên sơ và hầu như chưa được khai thác du lịch.

Đền Đuổm – Núi Đuổm

Cánh đồng Đuổm nhìn từ trên núi Đuổm (Ảnh – Duy Phạm)

Núi Đuổm, xưa gọi là Điểm Sơn, nằm kề quốc lộ 3, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 24 km về phía Tây – Bắc. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí xếp Điểm Sơn là danh thắng của đất Thái Nguyên và tả: “ Điểm Sơn… phía trước núi có phiến đá chỗ lên chỗ xuống như con rồng ngóc đầu, phía dưới có hai phiến đá lớn như hình hai con voi chầu vào. Đỉnh núi và sườn núi đều có đền”.

Từ xa nhìn vào, Núi Đuổm với sáu ngọn núi đá tựa sáu đầu rồng. Ngọn ở phía cực Đông như mọc ra một “tháp đá” chọc thẳng lên trời xanh. Các vách đá thẳng đứng, rêu phong cổ kính. Quanh núi, nhiều cây cổ thụ đường kính gốc hơn một mét.

Dưới chân núi, phía Đông Bắc, có đền thờ nổi tiếng linh thiêng thờ danh nhân Dương Tự Minh – Thủ lĩnh phủ Phú Lương, Phò mã hai đời vua nhà Lý, có nhiều công lao bảo vệ vững chắc miền biên cương phía bắc quốc gia Đại Việt (đền Trung) và hai nàng công chúa Diên Bình và Thiều Dung vợ ông (đền Hạ), thân mẫu của ông (đền Thượng).

Thác Đát Đắng

Ảnh – Fantastic Kelbin

Đát Đắng thuộc xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ trung tâm thành phố Thái Nguyên theo quốc lộ 37 nối giữa Thái Nguyên và Tuyên Quang du khách mất khoảng một giờ đồng hồ đi xe máy đến xã Phú Xuyên rồi đi tiếp hơn 2 km đường mòn chạy tới gần chân đát. Sau khi gửi xe và bách bộ khoảng 2 km băng qua những con suối, những bãi đá lởm chởm, những ngọn đồi xanh cỏ, thác Đát Đắng hiện ra tầng tầng, lớp lớp chắc chắn sẽ không phụ công sức của những vị khách đam mê du lịch và khám phá.

Ảnh – Trung Dinh

Đát Đắng khá xa đường quốc lộ, chính vì thế mà điểm hấp dẫn của nơi này chính là cảm giác được hòa mình vào thiên nhiên, được đắm chìm trong những cánh rừng nguyên sinh xanh mướt, trong một bầu không khí trong lành, mát mẻ, và những dòng thác tuôn chảy.

Suối Tiên

Suối Tiên, Văn Lăng, Đồng Hỷ (Ảnh – thainguyentourism.vn)

Suối Tiên thuộc xóm Tân Lập II, xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 30km về phía bắc. Từ trung tâm thành phố Thái nguyên theo quốc lộ 1B đến km số 7 rẽ trái đường đi Hòa Bình, qua địa phận xã Hòa Bình đến xã Văn Lăng, suối cách trung tâm xã 2km (có biển chỉ dẫn).

Trước đây suối có tên là Đát Khe Đậy nhưng sau này do khách du lịch đến đây ngày một nhiều, trước vẻ đẹp ngỡ ngàng, thiên tạo như vậy họ liên tưởng nơi đây có lẽ đã từng là điểm đến của các nàng tiên để du ngoạn và tắm mát nên đặt tên là Suối Tiên. Những người dân ở đây cũng không còn nhớ cái tên Suối Tiên này đã có từ lúc nào và dần đi vào tiềm thức của họ.

Du lịch tâm linh

Chùa Phù Liễn

Chùa Phù Liễn (Ảnh – Tuấn Anh Lê)

Chùa Phù Liễn có diện tích khoảng 7000m2, chùa tọa lạc trên một quả đồi cao thóang đãng với nhiều cây xanh cổ thụ. Chùa gồm có nhà Tam Bảo, Điện mẫu, nhà thờ tổ và khu vườn tháp cổ, trước sân chùa có tượng phật Bà Quan âm linh diệu.

Trong Chùa có bức đại tự hoành tráng gắn bốn chữ vàng: “Linh sơn phúc địa” (có nghĩa là núi thiêng, đất lành).

Theo nội dung thần phả, làng Phù Liễn được thành lập từ thời Lý (có tên gọi là hương Phù Liễn), do đó chùa được mang tên là chùa Phù Liễn (còn có tên khác là “Phù Chân thiền tự” nghĩa là che chở, bảo vệ những điều chân chính).

Trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884) và khởi nghĩa Thái Nguyên (1917), chùa Phù Liễn là nơi che chở, nuôi giấu một số nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám và Lương Ngọc Quyến.

Chùa Đán

Chùa Thịnh Đán (Ảnh – Hà Tiến Vinh)

Chùa Đán cách trung tâm Tp Thái Nguyên 5 km về phía Tây, ở địa phận xóm Chùa, phường Thịnh Đán. Trước đây chùa Đán được xây bằng gạch đỏ, cột kèo bằng gỗ, lợp ngói vẩy, nhà Tam bảo của chùa rộng 5 gian, bên trong có một số tượng Phật, xung quanh chùa có trồng rất nhiều cây thông, đây là nơi các phật tử của làng Đán và các vùng lân cận đến để sinh hoạt tâm linh. Năm 1917, Vua Khải Định đã ban 2 sắc phong cho xã Thịnh Đán là: Được tôn thờ các vị tướng lĩnh có công với nước; hàng năm người dân được mở hội mùa xuân; hiện 2 sắc phong này đang được lưu giữ tại đền Hồ Sen.

Chùa Ha

Chùa Ha có tên chữ là Bà Ha tự, ở xã Nhã Lộng (nơi đặt lỵ sở huyện Tư Nông xưa), huyện Phú Bình. Chùa tọa lạc trên quả đồi thoải khoảng 2,5ha, địa thế đẹp, thoáng mát, bao quanh có nhiều cây cổ thụ tạo cho chùa thêm tĩnh mịch, cổ kính.

Chùa Ha (Ảnh – truongdplx)

Là ngôi chùa cổ có niên đại sớm của tỉnh Thái Nguyên, lưu giữ được kiểm dáng kiến trúc cổ thời Lê thế kỷ XVIII. Chùa Ha có tổng diện tích xây dựng 735m2, kiến trúc chùa kiểu chữ công, với 7 gian tiền đường và 4 gian thượng điện, có khu nhà thờ tổ, thờ Mẫu nằm gọn trong khuôn viên khép kín. Kết cấu bộ vì kèo kiểu chồng rường, quá giang, kẻ chuyền. Tam quan chùa Ha có kiến trúc chồng diêm, 2 tầng khá độc đáo, tầng trên nhỏ hơn có tám mái lợp ngói mũi hài, có góc mái bằng gỗ tạo thành đầu đao nhọn, cong vút. Nội dung văn bia khắc trên 2 cột đá hình lục lăng tại thượng điện của chùa cho biết năm trùng tu chùa: “Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên Thập nhị tuế tại Bính thân trong Xuân cốc nhật…” (ngày tốt, tháng 2, năm Bính Thân, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 12, triều Lê (1976)).

Trong chùa còn bức hoanh phi Phật tức tâm và 6 câu đối, trong đó có câu soạn vào năm Thành Thái nguyên niên (1889): “Nhị bách dư niên sơn khởi tự – Trùng tu thử nhật bút kham minh” (Có nghĩa: Ngôi chùa làm trên núi đá đã có hơn 200 năm, nay được tu sửa lại, tôi cầm bút viết câu đối này). Trong chùa còn lưu giữ được 40 pho tượng cổ đường bệ, uy nghi, chất liệu gỗ và đất phủ sơn son thếp vàng. Các pho tượng được tạc dáng tỷ mỉ, công phu, mang nét đẹp dân dã.

Bức cửa võng chạm khắc công phu với đề tài tứ quý và bài biểu khắc trên gỗ còn khá nguyên vẹn, có niên đại Hoàng triều Thành Thái Nguyên niên. Chùa Ha có 28 cột đá. Cột đá cao 1,6m, chu vi 0,9m; khoảng cách giữa các chân cột là 2,2m, cột cái với cột quân 2,4m. Tiêu biểu là 2 cột đá hình lục lăng có niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 12 – triều Lê (1716). Kỹ thuật đẽo gọt công phu đạt tới trình độ điêu khác đá tinh vi thế kỷ XVIII.

Đình Hộ Lệnh

Đình Hộ Lệnh (Ảnh – Tuệ Thanh)

Đình Hộ Lệnh thuộc xóm Trung, làng Hộ Lệnh, xã Điềm Thụy Phú Bình được xếp hạng di tích nghệ thuật cấp quốc gia, là niềm tự hào của nhân dân Điềm Thụy. Theo sử sách thì đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XVIII dưới thời nhà Lê, thờ Anh hùng dân tộc Dương Tự Minh và các hậu thần.

Thời phong kiến đình là nơi phục vụ đời sống tinh thần của người dân, là trung tâm sinh hoạt làng xã, nơi cúng tế các vị thần Thành Hoàng làng, xử án, phạt vạ kẻ vi phạm lệ làng, thông báo các thông tin của Nhà nước phong kiến với nhân dân địa phương, là trung tâm để họp bàn việc nước…

Đình xây dựng theo kiểu chữ Đinh (T) trên một địa thế cao, nằm ở trung tâm làng. Đình thiết kế theo phong cách truyền thống dân tộc: 3 gian hai chái. Mái đình kết cấu bởi 8 bộ vì kèo liên kết bằng loại gỗ đinh. Các bộ vì kèo đều được trang trí đề tài tứ linh: Long, Ly, Quy Phượng.

Gian giữa đình nối liền với hậu cung treo bức hoành phi, hai bên có treo câu đối tạo nên bố cục cân xứng, đạt giá trị thẩm mỹ cao. Giữa tòa đình, phía trước nơi thờ cúng trang trí bức bình phong: Lưỡng long chầu nguyệt. Bên cạnh là hàng cột từ câu đầu xuống đều được sơn son thiếp vàng tạo nên sự ngăn cách gian giữa và hậu cung.

Kiến trúc xây dựng tường bằng các vật liệu cổ truyền có sức chịu lực lâu bền như: Gạch đá ong, gạch chỉ, ngói đỏ vẩy rồng, các tảng đá tốt được đục đẽo công phu dùng kê chân cột tạo cho tổng thể ngôi đình bề thế vững chắc.

Cách bài trí trong đình theo bố cục trang trọng, từ cửa đình vào gian giữa rồi tiếp nối với hậu cung. Từ cửa võng đình với nội thất được trang trí chạm nổi từng ô vuông có bức đại tự đề: Thánh Cung vạn tuế, điện thờ có sắc bàn, phía trước có hương án uy nghi đặt chiếc bát hương gốm Thổ Hà màu men da lươn được tạo dáng tỷ mỷ công phu. Chính điện thờ đặt tượng nổi chân dung đức Thánh nét mặt phương phi, tai dài, đầu đội mũ quan võ.

Đình Phương Độ

Đình Phương Độ thuộc làng Phương Độ, xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Đình Phương Độ được xây dựng vào thế kỷ 15 thờ Đức thánh Dương Tự Minh.

Đình Phương Độ (Ảnh – Thanh Long)

Đình Phương Độ là một di tích mang đặc trưng của kiến trúc thời Lê, với mái đình được làm bằng ngói mũi, bốn góc cong vút ẩn hiện dưới tán cây đa cổ thụ. Gác chuông được xây 3 tầng, trước cổng đình là ao bán nguyệt. Đình được dựng lên bởi 48 cột lim có đường kính 0,3-0,5m. Bốn góc đình được thiết kế hình mũi cong tạo cho đình một vẻ đẹp thanh thoát nhẹ nhàng. Trên mái đình được trang trí theo kiểu “Lưỡng long chầu nguyệt”. Ở trong đình, trên – dưới các đầu trụ, đầu cầu và các xà ngang, xà dọc đều được trang trí hoa văn, chạm trổ các bộ “Tứ linh” (Long –Ly – Quy – Phượng) rất khéo léo, công phu.

Gian chính của đình là nơi đặt điện thờ gồm: Một bàn hương án trang trọng lộng lẫy gọi là Thượng Cung Đình. Trên Thượng Cung Đình có Cửa Vọng được sơn son thiếp vàng. Phía trong Nội Cung đặt tượng đức thánh Dương Tự Minh tạc bằng gỗ hình nổi. Bên tả và bên hữu của bàn hương án là bộ “Hạc đứng lưng Quy” thể hiện cho sức mạnh và sự chiến thắng. Trong gian chính còn có câu đối, các bức tranh, bộ bát cửu…được bố trí hài hoà làm tôn thêm vẻ uy nghiêm của ngôi đình.

Trong đình hiện vẫn còn lưu giữ các hiện vật có giá trị như: Một sắc phong và 2 bức Đại tự thờ Dương Tự Minh thời Khải Định; Bàn hương án của cuối thời lê Đầu Thời nguyễn; Bát hương sành cổ (thời Lê); Hai cây nến đồng cao 0,8m (thời Lê) và các đồ vật quý như: Kiệu, bát hương, hương án…được trang trí và trạm trổ hoa văn tinh tế.

Đền Lục Giáp

Đền Lục Giáp thuộc xóm Dương xã Đắc Sơn huyện Phổ Yên. Thời xa xưa đền là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của dân làng vùng Sơn Cốt. Sau để tưởng nhớ công lao người anh hùng dân tộc Dương Tự Minh (thời Lý) và tướng Lưu Nhân Chú (thời Lê) nhân dân ở đây đã lập đền thờ hai ông.

Đền Lục Giáp là công trình cổ đời Lê, nhà tiền tế và hậu cung đều mang nét chung của kiến trúc đền miếu: cầu kỳ nhưng gọn, đẹp xây dựng theo kiểu “tiền kẻ hậu bẩy” tiền kẻ đỡ mái ngói và hậu bẩy chống từ cột giữa ra hiên rất chắc chắn. Cả hai nhà tiền tế hậu cung đều làm ba gian, hai trái, hậu cung hiện mái vẫn lợp ngói mũi, bốn góc mái cong vút, các cột đều làm bằng gỗ lim qua nhiều thế kỷ vẫn giữ được màu đen bóng. Tất cả các đấu trụ, câu đầu, ván lát phía trước hậu cung đều chạm khắc nổi tinh tế, công phu với các hình Long, Ly, Quy, Phượng. Đặc biệt hai cánh cửa chính vào hậu cung được chạm nổi lưỡng Long chầu nguyệt của thời Lê rất đẹp, đạt trình độ mỹ thuật truyền thống tinh xảo

Đền Giá

Đền Giá thờ Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng) và Mạn Điền Quốc Vương, người nông dân đất Thái Nguyên theo Thánh Gióng đi đánh giặc Ân. Đền được dựng từ xa xưa trên vùng đất cổ thuộc xã Đông Cao, Phổ Yên.

Khu di tích khảo cổ Thần Sa

Theo Quốc Lộ 1B di tích khảo cổ thuộc xã Thần Sa, huyện Võ Nhai cách thành phố Thái Nguyên 40 km về phía Bắc. Chính trong các hang động tại nơi này, từ thập kỷ 70 đến cuối thập kỷ 80, các nhà khảo cổ đã phát hiện và phân định được một nền văn hoá khảo cổ học mới-“Văn hoá Thần Sa”, có niên đại trên dưới 3 vạn năm, lần đầu tiên tìm được ở Đông Nam á, thu hút sự chú ý của đông đảo các nhà khoa học trong nước và thế giới.

Hang Phiêng Tung (Miệng Hổ)

Hang Phiêng Tung (Miệng Hổ) ở sườn đông núi Mèo, có độ cao hơn 50 mét, phải bám vào cành cây, dây leo, vách đá mới lên được. Hang cao khoảng 7 mét, rộng 10 mét, sâu 20 mét, có 2 tầng; tầng trên hẹp, không chứa di vật khảo cổ; tại tầng dưới, các nhà khảo cổ học đã thu được 659 hiện vật đá chủ yếu là các mảnh tước nhỏ có vết tu chỉnh dùng làm công cụ mũi nhọn và công cụ nạo cắt.

Mái đá Ngườm

Mái Đá Ngườm là một di chỉ quan trọng bậc nhất của khu di chỉ khảo cổ học Thần Sa nằm trên sườn dãy núi Ngườm thuộc bản Trung Sơn, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Mái Đá Ngườm là một di tích khảo cổ học nổi tiếng đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Di chỉ khảo cổ Mái đá Ngườm (Ảnh – Dung Hoang)

Đây là một mái đá cao chừng 30m, rộng 60m, cửa hang nằm ở hướng bắc. Hố khai quật di chỉ Ngườm cho thấy có 4 địa tầng văn hóa khảo cổ. Những di vật đá đặc trưng của các nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi nằm ở tầng 1, tầng 2… ở tầng thứ 3 là thuần các công cụ đặc trưng của Ngườm. Và ở tầng văn hóa thứ 4 là hàng vạn công cụ đá kiểu Phiêng Tung và Ngườm. Những công cụ mũi nhọn, công cụ nạo và kỹ thuật gia công lần thứ 2 giống như công cụ và kỹ thuật điển hình của văn hóa Mút-xchi-ê (Moustér), nền văn hóa tiêu biểu cho trung kỳ Thời đại đá cũ. Từ những năm 1980, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra dấu tích của người Việt cổ tại khu vực Mái Đá Ngườm. Đầu năm 2011, các nhà khoa học đã tìm được một chiếc răng voi hóa thạch, được cho là răng voi châu Á tại khu vực sông Thần Sa đoạn chảy qua di chỉ mái đá Ngườm. Niên đại của răng voi có tuổi từ 30.000 – 50.000 năm. Các nhà khảo cổ cho rằng, loài voi này sống cùng thời với bầy người nguyên thủy, chủ nhân của văn hóa Ngườm nổi tiếng.

Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam là một thiết chế văn hoá được xây dựng từ năm 1960, nằm giữa trung tâm thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, cách thủ đô Hà Nội hơn 80 km về phía Bắc. Là một trong 7 bảo tàng quốc gia của Việt Nam.

Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Thái Nguyên (Ảnh – wikipedia)

Thời kỳ đầu, Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam với tên gọi là Bảo tàng Việt Bắc với chức năng nhiệm vụ ban đầu là nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống lịch sử văn hoá, lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc khu Việt Bắc. Năm 1976. Khu tự trị Việt Bắc giải thể, Bảo tàng Việt Bắc chuyển giao về trực thuộc Bộ Văn hoá Thông tin quản lý. Đây là giai đoạn chuyển hướng nội dung hoạt động từ Bảo tàng tổng hợp sang Bảo tàng chuyên ngành về Văn hoá dân tộc. Ngày 31/ 3/ 1990 Bộ trưởng Bộ Văn hoá đã phê duyệt đổi tên Bảo tàng Việt Bắc thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam. Một Bảo tàng trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam không chỉ là một công trình kiến trúc to, đẹp mà còn là một trung tâm văn hoá lớn với chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy vốn di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc Việt Nam trên phạm vi cả nước.

Hiện nay hệ thống trưng bày của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam đã hoàn chỉnh với hệ thống 5 phòng trưng bày được xây dựng trên cơ sở nhóm ngôn ngữ kết hợp với văn hoá vùng, giới thiệu bản sắc văn hoá 54 tộc người gắn với cảnh quan môi sinh từng vùng cư trú. Bao gồm một gian long trọng và hệ thống 5 phòng trưng bày.

  • Phòng số 1: Trưng bày các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (Việt, Mường, Thổ, Chứt)
  • Phòng số 2: Trưng bày các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự, Sán Chay, Bố Y)
  • Phòng số 3: Trưng bày văn hóa các tộc người thuộc 3 nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao (H’mông, Dao, Pà Thẻn), nhóm ngôn ngữ Ka Đai (La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo) và nhóm ngôn ngữ Tạng Miến (Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La).
  • Phòng số 4: Trưng bày văn hóa 21 tộc người nhóm ngôn ngữ Môn Khơ mer (Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié Triêng, H’rê, Kháng, Khơ mer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, Mnông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng).
  • Phòng số 5: Trưng bày văn hóa các tộc người nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru) và nhóm ngôn ngữ Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu).

Ẩm thực và các món ăn ngon ở Thái Nguyên

Món ăn ngon ở Thái Nguyên

Canh gà nấu gừng

Canh gà nấu gừng (Ảnh – Thảo Chip)

Gà ta chặt miếng, ướp với gừng đập dập, lá gừng non thái nhỏ, mẻ, một ít rượu trắng, muối, bột ngọt. Đổ thịt gà đã ướp vào chảo gang xào chín thì cho bát nước và ít nấm hương, đậy nắp đun sôi thêm vài phút là được.

Bát canh gà thơm lừng, hương vị đặc biệt, dễ ăn và chế biến. Đây cũng là món ăn dân dã và thường được đãi khách của người Tày.

Cơm lam

Cơm lam nướng ăn với muối vừng, món ăn phổ biến của đồng bào vùng cao (Ảnh – Fb Cơm Lam Gà Nướng)

Món ăn khá phổ biến của đồng bào vùng cao. Đi làm nương hay vào rừng người ta đều đốt cơm lam. Gạo nếp nương ngâm kỹ, đổ vào những ống tre tươi bánh tẻ rồi nút lá dong tươi, dựng nướng trong đống lửa. Khi vỏ ống tre cháy xém có mùi thơm nếp hương tỏa lan là cơm lam đã chín. Chờ ống cơm lam bớt nóng, dùng dao sắc vót dần lớp ngoài ống tre sao cho vẫn giữ được lớp màng tre non. Cơm lam chín dẻo, thơm lừng ăn với muối lạc đảm bảo các bạn sẽ khó mà quên.

Xôi ngũ sắc

Xôi ngũ sắc (Ảnh – Tô Hưng Giang)

Gạo nếp cái ngâm kỹ trong nước, màu vàng làm từ nghệ tươi, các màu tím đỏ làm từ lá cây cơm đỏ cơm đen, tất cả trộn vào nhau đem đồ trên chõ cho chín. Xôi ngũ sắc trông rất đẹp và hấp dẫn. Xôi này thường được người Tày vùng Định Hóa làm trong các dịp lễ tết.

Nham

Là đặc sản ẩm thực nổi tiếng của xã Hà Châu, Phú Bình và thường được làm vào mùa trám chín (khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch) Món nham được làm từ 14 loại thực phẩm, gia vị dân dã như: trắm đen, cá cháy hoặc cá mè trắng, củ chuối tiêu non, vừng, lạc, thịt ba chỉ, khế chua, lá gừng, lá sung, lá nhội, lá đinh lăng, cùi dừa, tương, dấm thanh…

Cá cháy bắt từ sông, rửa sạch lọc thịt, bỏ da rồi dùng giấy bản thấm kỹ. Nếu làm nham cá sống thì thịt cá phải thái chỉ, nếu làm nham cá nướng thì cá mang nướng bằng than hoa (nướng 3 lửa, phơi 2 sương). Thịt ba chỉ thái miếng nhỏ, mỏng, nướng chín thơm. Củ chuối nạo nhỏ, vừng lạc rang thơm giã nhỏ. Khế, lá sung, lá gừng non, lá nhội, cùi dừa thái thật nhỏ. Tất cả những nguyên liệu này cùng bít quyết riêng của người Hà Châu, món nham thơm ngon béo bùi đã ra đời.

Măng đắng Ngàn Me

Măng đắng Ngàn Me một năm chỉ có bán trong 1 tháng (Ảnh – Hoa quả Huấn Điệp)

Người dân Thái Nguyên thường gọi món măng này là măng Ngàn Me bởi nó được lấy từ rừng Ngàn Me về. Măng đắng được bày bán khá nhiều ở chợ Chùa Hang, Đồng Hỷ và dọc Quốc lộ 1B đoạn qua cầu Gia Bẩy.

Không giống các loại măng khác, măng đắng ngàn me chỉ nhỏ cỡ bằng ngón tay người lớn. Cách chế biến đơn giản nhất là luộc măng chấm với muối ớt hoặc mắm tôm chanh. Nếu không muốn ăn luộc có thể chế biến măng thành nhiều món: xào, nấu canh… mỗi món ăn lại có một vị hấp dẫn riêng.

Măng nhồi thịt

Măng nhồi thịt (Ảnh – Truong Minh Anh)

Món măng nhồi thịt thơm ngon cũng rất dễ chế biến. Thịt nác vai lợn băm nhỏ trộn với nâm hương, mộc nhỉ, hành hoa, muối, bột ngọt, hạt tiêu nhồi vào những ống măng nứa đã luộc xong đem hấp khoảng 30′ là chín.

Rau rừng

Ảnh – Lan Anh Ha

Bồ khai là loại rau rừng mọc ven núi đá, món này có thể xào không hay xào với trứng gà, thịt băm, thịt bò…vẫn được coi là đặc sản thiết khách của Thái Nguyên

Vùng rừng Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai đều có cây rau ngót rừng (có nơi gọi là rau sắng). Rau ngót rừng nấu canh có bị thơm mát, rất bùi.

Bánh tro

Bánh gio thường ăn kèm với mật mía (Ảnh – Hồng Còi)

Bánh tro hay còn gọi là bánh gio, bánh nẳng, là thứ bánh dân dẫ mà bà con người Kinh, Tày, Sán Chay…thường làm. Gạo nếp ngâm kỹ trong nước tro đốt từ cây vừng và một số cây cỏ khác xong dùng lá chít hoặc lá dong gói thành bánh, đem luộc chín. Bánh tro ăn nguội, chấm với mật mía hay mậ tong, vị hơi nồng cho cảm giác mát dịu nơi dầu lưỡi.

Bánh chưng Bờ Đậu
Bánh chưng Bờ Đậu là đặc sản Thái Nguyên mà nếu có dịp đi du lịch Thái Nguyên các bạn không nên bỏ lỡ (Ảnh - Hoàng Ngọc Anh)

Bánh chưng Bờ Đậu là đặc sản Thái Nguyên mà nếu có dịp đi du lịch Thái Nguyên các bạn không nên bỏ lỡ (Ảnh – Hoàng Ngọc Anh)

Loại nếp làm bánh là loại nếp thơm ngon vùng Định Hóa, lá dong gói bánh lấy từ núi rừng Định Hóa, Chợ Đồn. Sự khéo léo trong việc gói, luộc bánh (nước giếng đá gan gà vùng Bờ Đậu rất trong và ngọt) đã làm cho bánh chưng Bờ Đậu có hương vị đặc biệt thơm ngon.

Nem chua Đại Từ

Nem chua Đại Từ (Ảnh – Facebook)

Nhắc đến nem chua, nhiều người chỉ thường nghĩ đến Thanh Hóa hay nem chua làng Vẽ (Hà Nội ), Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) , Đông Ba (Huế)… mà ít ai biết trên đất Thái Nguyên cũng có một vùng làm nem chua ngon không kém, đó là Đại Từ. Tuy nhiên không phải ở xã nào của Đại Từ cũng có mà nem chua chỉ có ở 3 xã: Văn Yên, Ký Phú và Yên Mỹ.

Không giống với các loại nem chua khác có thể bóc ra là ăn được ngay, nem chua Đại Từ cần có một thao tác nhỏ nữa là nướng bằng than củi hoặc lăn qua chảo mới có thể ăn được. Với thành phần gồm có: thịt nạc mông, tỏi, rượu, hạt tiêu, thính và lá ổi, mỗi chiếc nem được gói cẩn thận bằng lá chuối và có thể được đến vài ngày.

Đặc sản Thái Nguyên

Chè Tân Cương

Đặc sản chè Tân Cương, Thái Nguyên (Ảnh – Nguyễn Vân)

Thái Nguyên vốn nổi tiếng là xứ chè, và trong rất nhiều các loại chè ngon ở Thái Nguyên, chè Tân Cương được xếp đầu bảng và được tôn vinh là “đệ nhất danh trà”. Đất, nước, khí hậu vùng Tân Cương cùng với những bí kíp nghề chè của người dân nơi đây đã làm ra những cánh chè móc câu Tân Cương mà cả hương, sắc, vị của nó làm đắm say bao người yêu chè

Gạo bao thai Định Hóa

Ảnh – Lan Anh

Có thể nói, từ nhiều đời nay, bà con nông dân trên mảnh đất ATK cách mạng đã gắn bó mật thiết với cây lúa bao thai lùn. Đây là giống lúa đặc biệt, không ưa thâm canh, phụ thuộc vào ánh sáng, ít sâu bệnh, thích nghi với thổ nhưỡng, khí hậu vùng núi cao. Giống lúa này cho năng suất cao hơn các giống lúa bao thai thông thường; có độ dẻo, thơm quyến rũ ngay cả khi đã được chế biến thành mỳ, bún, bánh phở, bánh cuốn.

Miến Việt Cường

Không biết nghề làm miến có ở xóm Việt Cường, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ từ bao giờ, nhưng sản phẩm miến Việt Cường đã trở thành thương hiệu của tỉnh Thái Nguyên. Người Việt Cường làm miến quanh năm, nhưng vụ miến thường bắt dầu từ giữa năm cho đến gần Tết. Cũng giống như nhiều địa phương khác, người dân Việt Cường làm miến từ nguyên liệu chính là dong. Nhưng để làm ra những cân miến đặc biệt mà người tiêu dùng thưởng thức môt lần rồi nhớ mãi, ngay từ khi chọn dong người Việt Cường đã rất cầu kỳ.

Miến dong Việt Cường, một đặc sản cũng khá nổi tiếng của Thái Nguyên (Ảnh – Phượng Poire)

Dong phải là thứ Dong riềng tía, ngọt mát đặt mua trên những cánh rừng tận Bắc Kạn. Dong ấy đem về làm sạch sau đó dùng dao nhỏ gọt bỏ những phần hỏng, cạo vỏ rồi cho vào mài nát. Sau khi dong được làm nhuyễn, người thợ bọc vào một tấm vải màn thưa để lọc, nước lọc dong là nước mưa sạch và không có váng bẩn. Có thể dùng nước giếng nhưng phải là giếng đào chứ không dùng giếng khoan. Sau khi đã có nước dong gột qua 2 đến 3 lần người thợ sẽ pha chế thêm một phần bột gạo và một số phụ gia nữa và bắt đầu quấy bột cho thật sánh, công đoạn này đòi hỏi người làm miến phải dẻo dai và có sức khỏe vì càng lúc bột càng đặc hơn, phải quấy liên tục và đều tay thì bột không bị vón và sống.

Miến thường được chia làm 2 loại đó là miến trắng và miến tráng mộc. Miến tráng mộc làm khó hơn, đòi hỏi kỹ thuật cao hơn, chính vì thế mà giá thành của loại này cũng cao hơn so với miến trắng, miến trắng chủ yếu là hàng được mọi người đặt để đem đi biếu, làm quà vì loại miến này có “hình thức” đẹp hơn.

Sau khi bột được cho vào máy ép thành sợi miến, người thợ dàn miến ra phên và đem phơi. Độ đẹp của miến phụ thuộc nhiều vào thời tiết, ngày nắng đều và không gắt phơi miến là đẹp nhất, vì miến khô chủ yếu bằng gió và nắng nhạt, nếu nắng gắt quá sẽ khiến miến mất nhiệt nhanh dẫn đến sợi miến khi nấu bị khô và không còn màu trong nữa. Thông thường một mẻ phơi đẹp là khoảng 2 nắng, Miến sau khi phơi kỹ sẽ được gói lại thành từng “con” để nơi cao ráo tránh độ ẩm.

Tương nếp Úc Kỳ

Tương Úc Kỳ ngon nhất khi làm từ nếp Thầu Dầu (Ảnh – Fb Nếp Thầu Dầu)

Nghề làm tương ở xã Úc Kỳ không rõ chính xác có từ bao giờ, chỉ biết từ lâu, mỗi gia đình đều có ít nhất 1 chum tương để ăn trong năm và làm quà biếu khách đến chơi. Theo thời gian, nghề làm tương nếp đã trở thành nghề truyền thống của người dân địa phương và trở thành thứ ẩm thực đặc sản của Thái Nguyên. Tương nếp ở đây được làm từ 3 nguyên liệu chính là gạo nếp, đỗ tương và muối trắng. Tuy nhiên, chỉ có tương làm bằng gạo nếp Thầu dầu mới là ngon nhất. Quy trình làm tương cũng rất công phu, đầu tiên, gạo nếp Thầu dầu được nấu thành cơm sao cho chín đều và không bị khô, sau đó trải ra nia sạch phơi, đảo đều qua 3 ngày rồi lấy lá ngái đậy lên trên để ủ, đến khi cơm lên mốc có màu vàng hoa cau là được. Đối với đỗ tương, đem rang thơm rồi xay vỡ, cho vào chum ngâm với nước muối từ 12 đến 15 ngày, đến khi nếm có vị ngọt thì cho mốc vào ủ khoảng 30 ngày là tương ngấu. Trong thời gian này, cần kiểm tra tương cẩn thận bằng việc dùng gậy tre sạch quấy đều từ 2-3 lần/ngày để cho đỗ, mốc quyện đều với nhau và dùng túi bóng bịt kín miệng chum để tương giữ được mùi thơm, không bị ruồi muỗi làm bẩn.

Một số lịch trình phượt Thái Nguyên

Hà Nội – Hồ Núi Cốc – Tam Đảo

Lịch trình này khoảng 200km, các bạn có thể kết hợp đi trong mấy ngày cuối tuần từ thứ 6 đến chủ nhật.

Ngày 1: Hà Nội – Hồ Núi Cốc

Từ Hà Nội các bạn đi theo cầu Nhật Tân, hết cầu rẽ sang QL3 rồi từ đó lên thẳng Tp Thái Nguyên, tiếp đó đi lên hồ Núi Cốc. Chặng này chỉ khoảng 90km, đi khoảng từ 2-3 tiếng nên các bạn có thể kết hợp đi từ chiều thứ 6, đừng đi muộn quá là được. Tối ngủ ở Hồ Núi Cốc

Ngày 2: Hồ Núi Cốc – Tam Đảo

– Sáng dậy hãy cứ thoải mái dạo chơi ở Hồ Núi Cốc
– Thuê thuyền đi trên hồ, ghé thăm các đảo
– Trưa ăn trưa tại Hồ Núi Cốc, trả phòng rồi bắt đầu khởi hành sang Tam Đảo, khám phá du lịch Tam Đảo
– Các bạn đi theo hướng QL 37 (đi Tuyên Quang) rồi đến QL 2C thì quay ngược lại Vĩnh Phúc để lên Tam Đảo
– Dạo chơi Tam Đảo, tối nghỉ ngơi ở Tam Đảo. Nếu đi vào cuối tuần nhớ đặt phòng khách sạn trước ở Tam Đảo, đặt sớm thì có giá tốt và đỡ bị chặt chém.

Ngày 3: Tam Đảo – Hà Nội

– Sáng dậy sớm làm cốc cafe trong cái tiết trời mát lạnh của Tam Đảo. Lên Quán Gió để có view đẹp, nhớ lên sớm kiếm chỗ nhé, trên này lúc nào cũng đông nghẹt người.
– Đi tham quan các cảnh đẹp Tam Đảo như: Cổng Trời, nhà thờ, Thác Bạc…
– Trưa làm ít đồ nướng Tam Đảo
– Trả phòng rồi thong thả về Hà Nội, các bạn đi sớm cho thoải mái và đỡ bị sương mù. Trên đường về Hà Nội nếu còn thời gian các bạn có thể ghé thăm Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, chùa Tây Thiên

Hà Nội – ATK Định Hóa – Tân Trào – Suối khoáng Mỹ Lâm – Hà Nội

Lịch trình này dành cho các bạn thích khám phá các di tích lịch sử cách mạng, an toàn khu và cũng khá ngắn có thể đi trong mấy ngày cuối tuần. Với lịch trình này các bạn cũng có thể thay đổi suối khoáng Mỹ Lâm thành Hồ Núi Cốc nếu muốn.

Ngày 1: Hà Nội – ATK Định Hóa – Tân Trào – Suối khoáng Mỹ Lâm

Ngày đầu tiên xuất phát từ Hà Nội đi ATK Định Hóa, tiếp đó các bạn đi tiếp sang khu di tích Tân Trào (thuộc Tuyên Quang nhưng cũng ở không xa lắm).

Sau khi dành thời gian tìm hiểu hết 2 nơi này, các bạn có thể chạy về Tp Tuyên Quang rồi ghé suối khoáng Mỹ Lâm nghỉ ngơi, chơi bời. Tối ngủ tại đây

Ngày 2: Tuyên Quang Hà Nội

Ngày này, các bạn nên kết hợp với các lịch trình du lịch Tuyên Quang để tạo thêm các cung mới cho mình, nếu không các bạn chạy ngược Tuyên Quang về Hà Nội

Hà Nội – Thái Nguyên – Ba Bể – Cao Bằng – Thác Bản Giốc – Mẫu Sơn – Hà Nội

Ngày 1: Hà Nội – Thái Nguyên – Hồ Núi Cốc

Ngày này các bạn khởi hành từ Hà Nội đi Thái Nguyên, có rất nhiều các địa điểm du lịch ở Thái Nguyên (mặc dù không nằm gần nhau lắm) mà các bạn nên kết hợp để khám phá như: Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà, suối Cửa Tử, khu di tích ATK. Khá nhiều nên không thể đi hết được, các bạn hãy lựa chọn điểm nào thích nhất để đi nhé. Trong trường hợp muốn đi nhiều hơn, các bạn tự điều chỉnh thời gian của các ngày sau lùi lại một chút.

Tối các bạn quay trở về Hồ Núi Cốc, nghỉ ngơi ở đây

Ngày 2 : Thái Nguyên – Ba Bể (150km)

– Sáng dậy cứ thong thả nghỉ ngơi, thuê thuyền đi chơi hồ Núi Cốc rồi sau đó mới khởi hành đi Ba Bể. Khoảng cách 150km thì chỉ mất khoảng 3 tiếng là có mặt ở Ba Bể. Chiều đi chơi các địa điểm đẹp ở Ba Bể, đi thuyền trên hồ, thăm Đảo Bà Góa, Ao Tiên , thác Đầu Đẳng …
– Tối nghỉ ở Ba Bể, nếu thích có thể vào các bản người Tày ở theo kiểu home stay

Ngày 3 : Ba Bể – Cao Bằng – Thác Bản Giốc (200km)

–  Từ Ba Bể khởi hành đi Thác Bản Giốc theo hướng Quốc lộ 3
–  Chơi ở Thác Bản Giốc, Động Ngườm Ngao, một số mốc biên giới ở khu vực này. Có thể kết hợp khám phá các địa điểm du lịch ở Cao Bằng.
– Tối ngủ ở Trùng Khánh

Ngày 4 : Trùng Khánh – Lạng Sơn – Mẫu Sơn (200km)

– Từ Trùng Khánh quay ngược về Tp Cao Bằng
– Đi theo hướng Đông Khê – Thất Khê sang Lạng Sơn. Trên đường này có một số địa điểm du lịch Cao Bằng các bạn có thể tranh thủ khám phá.
– Từ Lạng Sơn đi tiếp lên Mẫu Sơn để nghỉ ngơi.
– Tối ngủ Mẫu Sơn

Ngày 5 : Mẫu Sơn – Lạng Sơn – Hà Nội (220km)

– Sáng đi tham quan một vài điểm ở Mẫu Sơn
Khám phá Lạng Sơn, ở đây có rất nhiều đặc sản Lạng Sơn ngon mà bạn nên thử
– Chạy từ Lạng Sơn về Hà Nội, kết thúc hành trình

Kinh nghiệm du lịch Thái Nguyên
5 (1 đánh giá)

Quy định chung

  • Vui lòng chỉ để lại bình luận trên website bằng tài khoản Facebook cá nhân.
  • Đọc kỹ thông tin trong bài trước khi đặt câu hỏi, Cùng Phượt chỉ trả lời những nội dung chưa có trong bài.
  • Không quảng cáo, rao vặt trong bình luận khi chưa được sự cho phép từ Cùng Phượt.
  • Nghiêm cấm spam dưới mọi hình thức, tất cả các nick cố tình spam sẽ bị cấm bình luận, nội dung spam sẽ bị ẩn khỏi website.

Bài mới đăng